hotline

091.789.6633

hotline

Phốt pho là kim loại hay phi kim?

Phốt pho là kim loại hay phi kim

Phốt pho là gì? Phốt pho là kim loại hay phi kim? Ứng dụng của phốt pho trong cuộc sống chúng ta như thế nào? Hãy tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây!

Xem thêm bài viết: Phốt pho nguyên tử khối bằng bao nhiêu?

Phốt pho là gì?

Phốt pho là một nguyên tố hóa học có ký hiệu P và số hiệu nguyên tử 15. Nguyên tố phốt pho tồn tại ở hai dạng chính, phốt pho trắng và phốt pho đỏ, nhưng vì nó có tính phản ứng cao nên phốt pho không bao giờ được tìm thấy như một nguyên tố tự do trên Trái đất.

Khi ở nhiệt độ phòng, phốt pho là chất rắn không màu, bán trong suốt, mềm như sáp, phát sáng trong bóng tối.

Thuộc tính phần tử của phốt pho
Thuộc tính phần tử của phốt pho

Nguồn gốc của phốt pho

Phốt pho là nguyên tố đầu tiên được phát hiện từ thời cổ đại, mặc dù các hợp chất của phốt pho đã được biết đến trong nhiều thiên niên kỷ. Nó được phát hiện lần đầu tiên bởi Hennig Brandt, một nhà giả kim đến từ Hamburg vào năm 1669, từ phần cặn thu được từ nước tiểu cô đặc. Tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp phos (“ánh sáng”) và phoros (“mang lại”), và đề cập đến thực tế là phốt pho nguyên tố phát sáng trong bóng tối, và tự phát thành ngọn lửa trong không khí.

Phốt pho được tìm thấy trong cơ thể dưới dạng anion phốt phát, PO 4 3- ; thường một hoặc nhiều nguyên tử oxy được kết nối với các nhóm carbon để tạo thành organophosphat. Nhóm photphat được sử dụng để lưu trữ năng lượng hóa học trong phân tử adenosine triphosphat (ATP); nhóm phốt phát giữ các phân tử đường chứa axit nucleic trong DNA và RNA lại với nhau; và phospholipid (chất béo có chứa nhóm phosphat) là thành phần chính của màng tế bào.

Phốt pho được lưu trữ trong bộ xương của động vật ở dạng tinh thể hydroxyapatite, [Ca 3 (PO 4 ) 2 ] 3 · Ca (OH) 2). Các muối photphat cũng được sử dụng rộng rãi trong phân bón.

Phốt pho được tìm thấy trong các loại quặng được gọi là đá photphat, bao gồm chủ yếu các khoáng chất apatit khác nhau, chẳng hạn như hydroxylapatite [Ca 5 (PO 4 ) 3 (OH)], fluorapatit [Ca 5 (PO 4 ) 3 F] và chlorapatit [Ca 5 (PO 4 ) 3 Cl].

Tên bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp phốt pho có nghĩa là "mang lại ánh sáng"
Tên bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp phốt pho có nghĩa là “mang lại ánh sáng”

Phốt pho được tìm thấy ở ba dạng chính:

  • Phốt pho trắng là một chất mềm, như sáp, dễ cháy, gồm các phân tử P 4 tứ diện; nó thường có màu hơi vàng vì có lẫn tạp chất (do đó, đôi khi nó được gọi là phốt pho vàng). Phốt pho trắng có phản ứng mạnh và tự bốc cháy ở khoảng 30°C trong không khí ẩm. Nó thường được bảo quản dưới nước, để tránh tiếp xúc với không khí. Nó cũng cực kỳ độc hại, ngay cả với số lượng rất nhỏ.
  • Phốt pho đỏ bao gồm các phân tử phốt pho liên kết chéo và ổn định ở nhiệt độ phòng, nhưng có thể được chuyển đổi thành phốt pho trắng phản ứng mạnh hơn bằng nhiệt, ánh sáng mặt trời hoặc ma sát. Phốt pho đỏ được sử dụng trên bề mặt của hộp đựng diêm an toàn; ma sát do kéo đầu que diêm trên bề mặt nhám sẽ chuyển một số photpho đỏ thành photpho trắng, chất này tự bốc cháy làm đầu que diêm bốc cháy. Phốt pho đỏ cũng được sử dụng trong pháo hoa và các chất nổ khác.
  • Phốt pho đen bao gồm các tấm lục giác của các nguyên tử phốt pho (cấu trúc tương tự như than chì), và là dạng phản ứng ít nhất. Nó có ít giá trị thương mại, nhưng có thể được chuyển đổi thành phốt pho trắng bằng cách nung nóng dưới áp suất.

Ứng dụng của phốt pho

  • Phốt pho trắng được sử dụng trong việc làm diêm đốt cháy từ những ngày đầu tiên, nhưng có một số vấn đề về an toàn liên quan đến chúng. Chúng có thể bắt lửa quá dễ dàng, là nguyên nhân gây ra nhiều vụ cháy, và những công nhân làm diêm bị ngộ độc phốt pho rất cao.
  • Tiếp xúc mãn tính với phốt pho có thể gây ra một tình trạng gọi là “hàm hô”, trong đó xương hàm từ từ bị bào mòn đi. Các loại que diêm tấn công hiện đại sử dụng hợp chất phốt pho không độc hại được gọi là phốt pho sesquisulfide, P 4 S 3 , trong khi các loại diêm an toàn sử dụng phốt pho đỏ, được chuyển thành phốt pho trắng do ma sát khi kéo đầu que diêm trên bề mặt nhám của hộp diêm.
  • Phốt pho cũng đã được sử dụng trong chiến tranh và được sử dụng trong đạn đánh dấu vết, bom cháy và một số loại khí thần kinh (bao gồm sarin và VX).
  • Axit photphoric, H 3 PO 4 , được sử dụng để loại bỏ gỉ sắt, và cũng được sử dụng để axit hóa một số thực phẩm (chẳng hạn như đồ uống cola).

Phốt pho là kim loại hay phi kim?

Photpho là một phi kim. Phần lớn các nguyên tố là kim loại. Nếu chúng ta xem xét đến Uranium (92, nguyên tố xuất hiện tự nhiên cuối cùng) thì 17 nguyên tố được phân loại là phi kim, 7 nguyên tố được xếp vào nhóm kim loại và phần còn lại là kim loại.

Phốt pho là một phi kim loại. Các kim loại thường là các chất cho điện tử, có nghĩa là chúng mất đi các điện tử hóa trị ở lớp vỏ ngoài cùng của chúng để tạo thành một ion giống như cấu trúc của khí quý gần nhất, có lớp vỏ ngoài đầy đủ các điện tử và do đó ổn định.

Ví dụ: Magie có ba lớp vỏ với 2, 8 và 2 điện tử – theo thứ tự đó – sẽ tặng 2 điện tử cuối cùng để tạo thành ion Magiê (Mg2 +) có cấu hình giống hệt nhau – hai lớp vỏ có 2 và 8 điện tử, trong đó đặt hàng – đối với một nguyên tử Neon. Phốt pho, là một phi kim loại, là một chất nhận điện tử, vì vậy nó phải nhận được các điện tử để tạo thành một cấu trúc ổn định. Trong trường hợp này, Phốt pho – 2, 8, 5 – cần 3 điện tử để tạo thành ion Phốt pho (P3-) – 2, 8, 8 – giống nguyên tử Argon.

Phốt pho là kim loại hay phi kim
Phốt pho là kim loại hay phi kim

Sự khác biệt giữa kim loại và phi kim thường như sau:

  • Kim loại là vật dẫn nhiệt và dẫn điện tốt so với phi kim.
  • Tất cả các kim loại trừ thủy ngân là chất rắn ở nhiệt độ và áp suất thường. Phi kim tồn tại ở dạng rắn, lỏng, khí trong cùng điều kiện.
  • Kim loại dễ uốn nhưng phi kim sẽ giòn nếu chúng ở dạng rắn.
  • Kim loại có ít electron ở lớp vỏ ngoài cùng hơn so với phi kim.
  • Kim loại dễ mất điện tử hóa trị trong khi phi kim dễ mất điện tử hóa trị.
  • Kết quả là, kim loại là chất khử tốt trong khi phi kim là chất oxi hóa.
  • Oxit kim loại có tính bazơ và phi kim có tính axit.
  • Kim loại có độ âm điện nhỏ hơn và phi kim có độ âm điện lớn hơn.

Các kim loại đều thể hiện tính kim loại và tính phi kim. Boron, (đôi khi là nhôm), Silicon, Germanium, Asen, Antimon, Tellurium và Astatine được coi là các kim loại. Nếu bạn nhìn vào bảng tuần hoàn, các nguyên tố này tạo thành một bước giống như ranh giới giữa kim loại và phi kim, ngoại trừ hydro nằm ở ngoài cùng bên trái thường cùng với các kim loại kiềm. Vì vậy, thật tự nhiên khi chúng thể hiện cả hai hành vi. Vị trí của hydro trong bảng tuần hoàn thường được tranh luận. Một mặt, hydro có khả năng hình thành phân tử điatomic homonuclear giống như các halogen. Mặt khác, nó chỉ có một electron hóa trị ở lớp vỏ ngoài cùng như các kim loại kiềm.

Mọi thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ với chúng tôi để nhận được sự tư vấn tốt nhất.

Công ty môi trường CCEP

Trang web: http://ccep.com.vn/

Facebook: https://www.facebook.com/nuocthaikhithai/

Hotline: 091.789.6633

Email: ccep.vn@gmail.com

Xưởng sản xuất thiết bị: Xuân Trạch – Xuân Canh – Đông Anh – Hà Nội

VPĐD: Nhà NV 6.1 Khu đô thị Viglacera Hữu Hưng – 272 Hữu Hưng – Nam Từ Liêm – Hà Nội

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.